13/10/14
1/4/14
Japanese University Entrance
Tài liệu tham khảo:
http://jalt.org/test/SSA11.htm
http://www.nier.go.jp/English/EducationInJapan/Education_in_Japan/Education_in_Japan_files/201109HE.pdf
http://jalt-publications.org/archive/jj/2008a/art5.pdf
http://www.cis.doshisha.ac.jp/kkitao/library/handout/2008/worldcall/exam.pdf
http://www.zam.go.jp/n00/pdf/nk001001.pd
fhttp://factsanddetails.com/japan/cat23/sub150/item1790.html
http://jalt.org/test/SSA11.htm
http://www.nier.go.jp/English/EducationInJapan/Education_in_Japan/Education_in_Japan_files/201109HE.pdf
http://jalt-publications.org/archive/jj/2008a/art5.pdf
http://www.cis.doshisha.ac.jp/kkitao/library/handout/2008/worldcall/exam.pdf
http://www.zam.go.jp/n00/pdf/nk001001.pd
fhttp://factsanddetails.com/japan/cat23/sub150/item1790.html
18/3/14
How did I choose the topic for my dissertation
During the courses of Ph.D program, I thought about the topic for dissertation very much. I considered about higher education and use qualitative method to collect data as I did MA thesis before. I am interested in internationalization in higher education. My major is comparative education, therefore, I want to do a comparison between my home country-Vietnam and my second-home country- Taiwan. I know that there is a professor who does research about Vietnam and specialize in internationalization and globalization in higher education. However, I am afraid that I will have difficulty in collecting data because of my Chinese and the relationship in Vietnam to invite participants enjoy my research... I am asked about my dissertation topic in each course that make me worry and pressure....
In the second semester of my first year Ph.D program, there was a professor who I always respect and admire, write email to ask me whether I take his statistics course or not. He would open it in English. Certainly, I chose it because it's rarely to have an English course although my Ph.D program is in English. It's special course with a student only.
(continued...)
In the second semester of my first year Ph.D program, there was a professor who I always respect and admire, write email to ask me whether I take his statistics course or not. He would open it in English. Certainly, I chose it because it's rarely to have an English course although my Ph.D program is in English. It's special course with a student only.
(continued...)
21/12/13
Education in: Vietnam Very good on paper
(Lưu tư liệu)
-----------------------------------------------
ON SATURDAY morning, December 14th, America's secretary of state, John Kerry, will travel to Vietnam. One of his talking points, according to the State Department, will be the "empowering role of education”. But it seems like Vietnam has already taken the message.
On December 3rd, the OECD released the results from its Programme for International Student Assessment (PISA), an exam administered every three years to 15- and 16-year-olds in dozens of countries. Vietnam recently joined the test for the first time, and it scoredremarkably well—higher in maths than America and Britain, though not as high as Shanghai or Singapore. Nguyen Vinh Hien, a deputy minister for education, characterised Vietnam's overall 17th-place ranking out of 65 countries and economies as a pleasant “surprise.”
The PISA scores, as they are known, measured how a half-million students from randomly selected schools answered written and multiple-choice questions in a two-hour test. Mathematics was the primary focus, but students were also evaluated on reading, science and problem-solving. Coverage of the scores by the Western news media suggested that the impressive maths performance by Vietnam, where per-capita GDP is only about $1,600, was perhaps a bit humbling for education officials in Washington, London and other self-regarding world capitals.
What explains Vietnam's good score? Christian Bodewig of the World Bank says it reflects, among other positive things, years of investment in education by the government and a "high degree of professionalism and discipline in classrooms across the country”. But Mr Bodewig adds that the score may be impressive in part because so many poor and disadvantaged Vietnamese students drop out of school. The World Bank reports that in 2010 the gross enrolment rate at upper-secondary schools in Vietnam was just 65%, compared with 89% and 98% in America and Britain, respectively. South Korea's rate was 95%.
A chorus of Vietnamese education specialists say that Vietnam's PISA score does not fully reflect the reality of its education system, which is hamstrung by a national curriculum that encourages rote memorisation over critical thinking and creative problem-solving. "Every child in this country learns the same thing," and nationwide tests merely reinforce the intellectual homogeneity that results, in the lament of To Kim Lien, the director of the Centre for Education and Development, a Vietnamese non-profit in Hanoi. Ms Lien reckons that instead of catalysing educational reform, the score might provide a convenient excuse for complacency in matters of policy. And the old-fashioned, inward-looking Ministry of Education and Training, she adds, is a past master at complacency.
Another systemic problem is a general lack of “integrity” in Vietnam's education sector, in the words of Nguyen Thi Kieu Vien of the Global Transparency Education Network, a new initiative of Transparency International, a watchdog based in Berlin. In a recent survey the organisation found that 49% of Vietnamese respondents perceived their education sector to be "corrupt" or "highly corrupt”. The percentage was higher than that found in Thailand, Malaysia, Indonesia and Cambodia. Corruption is plainly evident at elite Vietnamese schools, where slots for pupils are routinely sold for $3,000 each. Yet it also exists on a smaller scale, in subtler forms. Many Vietnamese teachers hold extra tuitions, outside of regular school hours, for a small fee of between $2.50 and $5 per lesson. Not all parents can afford to pay these fees, and so the practice tends to exacerbate inequality.
In November some top-ranking national officials passed a resolution calling for reform in the education sector. Kim Ngoc Minh, an education researcher in Hanoi, says the resolution is the most comprehensive and ambitious in a generation. Other education specialists however wonder whether the resolution, which calls for reform in broad stokes, will translate into actual policy changes.
Actual changes are badly needed. In 2008, researchers from Harvard reported that Vietnam's higher-education system was in "crisis", and that it lagged far behind the systems of Thailand, Malaysia and the Philippines, to say nothing of those in China, Taiwan and South Korea. As a warning, they pointed to the comparative lack of articles published by Vietnamese researchers in peer-reviewed international journals. The Harvard memo also said the government was awarding research funding "uncompetitively”, and that there was a vast difference between what graduates had learned and what prospective employers wanted them to know.
These shortcomings can be linked to others in primary and secondary schools. Ms Lien of the Centre for Education and Development says that a basic reform package might begin with the younger age group, by including parents in a decision-making process that has long been dominated by the education ministry. Nearly two years ago, she was among a dozen senior educators who submitted paperwork to the ministry requesting permission to establish a national parent-teacher association. Their group still has not received an official response. Perhaps the ministry is afraid of what Vietnamese parents might say, if they had a platform.
--------------------------------------------------------------
Source: http://www.economist.com/blogs/banyan/2013/12/education-vietnam
11/12/13
Những ẩn số đằng sau thành tích của PISA Việt Nam
Kết
quả PISA 2012 vừa được công bố ngày 3 tháng 12 năm 2013, Việt Nam đã “gây bất
ngờ cho cả thế giới” với thành tích vượt cả những cây cổ thụ có nền giáo dục vượt
bậc như Anh, Mỹ, Úc…Điều này làm cho nhiều nhà quản lý giáo dục vui mừng tự hào
vì kết quả “vượt bậc”. Thế nhưng có ai đặt câu hỏi: đằng sau kết quả thành tích
điểm số PISA đó thì thực chất sản phẩm giáo dục của chúng ta như thế nào?
Động
cơ học tập: chưa xuất phát từ bản thân
Trong cuộc khảo sát năm 2012, PISA tập trung vào toán học vì
thế phiếu khảo sát dành cho học sinh cũng xoay quanh những câu hỏi liên quan đến
toán học. Một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến thành tích toán học của học
sinh là động cơ học tập bao gồm động cơ bên trong (intrinsic motivation) và động
cơ thực dụng (intrinsic motivation) đã OECD phân tích rất rõ trong báo cáo sơ bộ.
Động cơ bên trong bao gồm những câu hỏi liên quan đến sự yêu mến, thích thú
dành môn học. Đông cơ thực dụng bao gồm những câu hỏi liên quan đến giá trị của
môn học cho công việc, nghề nghiệp tương lai.
Theo báo cáo, có hơn 70% học sinh Indonesia, Malaysia,
Kazakhstan, Thái Lan và Albania cảm thích thú với toán học; và hơn 80% học
sinh Albania, Thailand, Colombia, Peru,
Mexico, Kazakhstan, Jordan và Malaysia cảm thấy thú vị với những gì họ học được
trong toán học. Trong khi đó những nước
này lại có thành tích toán học thấp dưới mức trung bình của OECD, đặc biệt
Indonesia đứng ở áp chót bảng xếp hạng nhưng học sinh Indonesia lại vô cùng vui
vẻ, thích thú với toán học.
Kết quả phân tích SPSS theo dữ liệu công bố của OECD: có 76,1%
học sinh cảm thấy thích đọc về toán học; 57,6% học sinh mong chờ những tiết chọ
toán; 67,6% học sinh làm toán bởi vì yêu thích toán; và 80,1% học sinh thấy thú
vị với những gì học được trong môn toán (xem bảng 1). Theo báo cáo của OECD
thì giới tình và kinh tế- xã hội có ảnh
thưởng rất nhiều đến động cơ bên trong của học sinh Việt Nam nhưng động cơ bên
trong này có mối quan hệ không cao với việc học toán và thành tích toán học của sinh viên Việt Nam. Mối
quan hệ giữa động cơ bên trong với thành tích học tập của học sinh Việt Nam chỉ
trong khoảng trung bình của OECD. Các nước có mối quan hệ này cao như Hàn Quốc,
Đài Loan, Na Uy, Ba Lan, Nhật Bản và Thượng
Hải – Trung Quốc.
Đông cơ thực dụng của học sinh Việt Nam rất đáng chú ý khi tỷ
lệ khá cao: có 94,3% học sinh cố gắng học toán vì toán sẽ giúp cho công việc về
sau; 88,2% học sinh học toán vì toán sẽ cải thiện nghề nghiệp của họ sau này; 87,9%
học sinh thấy toán học quan trong cho việc học về sau; 86,5% học sinh cho rằng
những thứ học được trong toán học sẽ giúp ích cho công việc (xem bảng 1). Tỷ lệ
này của Việt Nam là cao so với trung bình của OECD vì theo báo cáo của OECD thì
không có yếu tố nào trong các yếu tố trên vượt mức 80%. Cũng theo báo cáo này,
những yếu tố về giới tính và kinh tế-xã hội cũng có ảnh hưởng lớn đến động cơ
thực dụng của học sinh Việt Nam. Phân tích về sự ảnh hưởng của động cơ thực dụng
với việc học toán và thành tích toán học thì Việt Nam xếp cao hơn trung bình của
OECD và nằm trong tốp 20 nước/vùng kinh tế có mối quan hệ ảnh hưởng giữa động
cơ thực dụng với thành tích toán học của học sinh.
Bảng 1. Tỷ lệ % động cơ bên trong và động
cơ thực dụng của học sinh Việt Nam trong PISA 2012
Rất đồng ý
(%)
|
Đồng ý
(%)
|
Không đồng ý (%)
|
Rất không đồng
ý (%)
|
Tổng số
(%)
|
Missing (số học
sinh)
|
||
Động cơ bên trong
|
Thích đọc về toán học
|
14,8
|
61,3
|
22,6
|
1,3
|
100
|
1699
|
Mong đợi những tiết toán học
|
7,4
|
50,2
|
39,3
|
2,5
|
100
|
1696
|
|
Thích học toán vì
thích toán
|
14,0
|
53,6
|
38,0
|
1,6
|
100
|
1697
|
|
Thích thú với những gì học được trong
toán học
|
17,2
|
62,9
|
19,0
|
0,9
|
100
|
1711
|
|
Động cơ thực dụng
|
Cố gắng học toán vì
nó giúp ích cho công việc sau này
|
39,2
|
55,4
|
4,7
|
0,6
|
100
|
1694
|
Học toán là có giá trị giúp cải thiện
cơ hội triển vọng nghề nghiệp
|
30,5
|
57,7
|
10,9
|
0,8
|
100
|
1700
|
|
Toán học quan trọng
cho tương lai
|
29,1
|
58,8
|
11,1
|
0,9
|
100
|
1694
|
|
Những cái học được từ toán học sẽ giúp
cho công việc
|
26,7
|
59,8
|
12,6
|
0,9
|
100
|
1694
|
|
*Mẫu khảo sát: 4959 học sinh
** Số liệu trên không bao gồm số
phiếu missing (số phiếu không trả lời và số phiếu không hợp)
Học sinh có động cơ học tập là rất tốt nhưng khi động cơ thực
dụng lớn hơn động cơ bên trong thì là một điều nguy hiểm. Vì động cơ thực dụng
là thể hiện sự mong muốn phải đạt được cái gì đó, và để đạt được cái mong muốn
đó thì có thể dùng đủ các biện pháp bất chất hậu quả của nó. Điều này nhận thấy
rất rõ trong giáo dục hiện nay như: học thêm, chạy điểm, coi cóp…để đạt được điểm
số cao, trò giỏi, thầy giỏi, trường giỏi,…Chính vì thế “bệnh thành tích” trong
giáo dục hiện nay vẫn là “căn bệnh nan y”!
Sự tự tin vào khả năng của bản
thân: Giỏi lý thuyết, yếu thực hành
PISA
2012 để cho học sinh tự nhận xét về sự tự tin đối với một loạt các nhiệm vụ thuần
túy và ứng dụng toán học liên quan đến đại số, chẳng hạn như sử dụng một bảng
giờ tàu để tính được thời gian từ nơi này đến nơi khác; tính xem một chiếc ti
vi giá bao nhiêu sau khi giảm đã giá 30%; tính bao nhiêu mét vuông gạch cần thiết
để lát một sàn nhà; tính mức tiêu thụ xăng của một chiếc xe, đọc hiểu biểu đồ trong
một tờ báo; tìm kiếm các khoảng cách thực tế giữa hai địa điểm trên bản đồ với
quy mô 1: 1000; giải phương trình như 3x
+ 5 = 17 và 2 (x +3) = (x +3) (x-3). Học sinh trả lời các câu hỏi về việc liệu
họ cảm thấy rất tự tin, tự tin, không tự tin và rất không
tự tin được sử dụng để xác định mức độ tự tin vào khả năng toán học của học sinh.
Kết
quả phân tích SPSS của PISA Việt Nam cho thấy:
Bảng 2.
Tỷ lệ % sự tự tin vào khả năng toán học của học sinh Việt Nam trong PISA 2012
Rất
tự tin
(%)
|
Tự tin
(%)
|
Không tự tin (%)
|
Rất không tự tin (%)
|
Tổng số
(%)
|
Missing (số học
sinh)
|
|
Sử dụng bản
giời tàu để thời gian giờ tàu tàu chạy
|
10,4
|
45,1
|
41,6
|
2,9
|
100
|
1698
|
Tính giá một
chiếc ti vi sau khi giảm giá 30%
|
29,3
|
53,4
|
16,3
|
1,0
|
100
|
1673
|
Tính bao
nhiêu mét vuông gạch cần thiết để lát 1 sàn nhà
|
32,3
|
53,3
|
13,7
|
0,7
|
100
|
1699
|
Đọc hiểu những
biểu đồ trên báo
|
10,7
|
44,0
|
43,4
|
1,9
|
100
|
1673
|
Giải phương
trình như: 3x+5=17
|
53,3
|
36,3
|
9,5
|
0,9
|
100
|
1694
|
Tính khoảng
cách thực tế giữa hai nơi với lỷ lệ 1:10.000
|
12,5
|
34,0
|
50,0
|
3,5
|
100
|
1673
|
Giải phương
trình như:
2(x+3)=
(x+3) (x-3)
|
37,3
|
40,9
|
20,3
|
1,6
|
100
|
1696
|
Tính mức tiêu
thụ dầu của một chiếc xe
|
6,3
|
35,6
|
52,3
|
5,9
|
100
|
1696
|
*Mẫu khảo sát: 4959 học sinh
** Số liệu trên không bao gồm số
phiếu missing (số phiếu không trả lời và số phiếu không hợp)
Từ bảng
dữ liệu trên ta thấy học tỷ lệ sinh Việt Nam không tự tin vào khả năng toán học
của mình ở mức cao. Trong 8 câu hỏi đưa ra bao gồm cả những câu hỏi liên quan đến
kiến thức lý thuyết và khả năng thực hành toán học. Có thể thấy rằng học tỷ lệ
học sinh Việt Nam tự tin vào kiến thức lý thuyết cao hơn khả năng thực hành. Chẳng
hạn, với câu hỏi liên quan đến giải phương trình, tình mét vuông thì sự tự tin
của học sinh rất cao nhưng với các câu hỏi như tính mức tiêu thụ dầu, tính thời
gian tàu chạy, đọc hiểu biểu đồ trên báo thì học sinh lại mất tự tin. Trong khi
đó theo báo cáo của OECD thì tỷ lệ học sinh được khảo sát rất tự tin vào khả
năng tính thời gian giờ tàu chạy, đọc biểu đồ trên báo là rất cao so với những
cái còn lại. Cũng theo báo cáo Việt Nam
là nước đứng thứ nhất thể hiện mối quan hệ ảnh hưởng của sự thiếu tự tin vào khả
năng toán học học của học sinh với thành tích toán học. Tức là, học sinh đạt kết
quả thấp thong bài kiếm tra ở những câu mang tính thực hành. Như vậy câu hỏi đặt
ra cho giáo dục của chúng ta là tại sao học sinh Việt Nam vẫn chỉ giỏi lý thuyết
và yếu thực hành? Đó chính là vấn đề mà ngành giáo dục phải quan tâm và phải có
giải pháp để có thể cải thiện được thực trạng hiện nay.
Sự lo lắng của học sinh: Điểm số
Đã
có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng hiện nay học sinh rất lo lắng
về thành tích học tập ở trường, cũng như là lo lắng về các kỳ thi, kỳ kiểm tra.
PISA 2012 đã hỏi sinh đưa ra ý kiến của mình là đồng ý hoặc rất đồng ý nếu các
em cảm thấy thường lo lắng về toán học sẽ khó đối với các em, thường rất căng
thẳng khi các em phải làm bài tập toán về nhà; rất lo lắng làm các vấn đề về
toán học; các em cảm thấy bất lực khi làm một vấn đề toán học, và các em lo lắng
là sẽ bị điểm kém môn toán. Từ đó OECD sẽ xác định được chỉ số về sự lo lắng của
học sinh đối với toán học. Nhìn vào bảng 3, ta thấy tỷ lệ lo lắng của học sinh
Việt Nam đối với toán học là khá cao. Tỷ lệ cao nhất là học sinh lo lắng toán học
sẽ khó hơn chiếm 72,4% trong khi đó trung bình của OECD chỉ gần 60%, đứng thứ hai là tỷ lệ học sinh lo lắng bị điểm
kém môn toán chiếm 71,4% trong khi tỷ lệ
trung bình của OECD chỉ hơn 60%. Theo
phân tích của OECD thì yếu tố lo lắng đối với toán học ảnh hưởng đến học thành
tích toán học của học sinh, đặc biệt điều này thể hiện rõ nét hơn ở hai nhóm học
sinh đạt kết quả cao và học sinh có kết quả thấp. Những học sinh có kết quả cao
thì sự lo lắng này càng cao.
Bảng 3. Tỷ lệ % sự lo lắng đối với
toán học của học sinh Việt Nam trong PISA 2012
Rất đồng ý
(%)
|
Đồng ý
(%)
|
Không đồng ý (%)
|
Rất không đồng
ý (%)
|
Tổng số
(%)
|
Missing (số học
sinh)
|
|
Lo lắng môn
toán sẽ khó
|
11,9
|
60,5
|
25,0
|
2,6
|
100
|
1664
|
Cảm thấy căng
thẳng với toán học
|
4,0
|
21,4
|
50,7
|
10,0
|
100
|
1699
|
Cảm thấy lo
lắng về môn toán
|
5,0
|
38,5
|
47,9
|
8,6
|
100
|
1671
|
Cảm thấy bất
lực với toán học
|
3,7
|
53,2
|
52,9
|
8,2
|
100
|
1669
|
Lo lắng bị
điểm kém
|
18,9
|
52,5
|
22,3
|
6,2
|
100
|
1670
|
*Mẫu khảo sát: 4959 học sinh
** Số liệu trên không bao gồm số
phiếu missing (số phiếu không trả lời và số phiếu không hợp)
Qua khảo sát PISA 2012
cho thấy rằng học sinh Việt Nam vẫn quan trọng điểm số vì các em lo lắng bị điểm
kém. Trên thực tế hiện nay, không chỉ có
học sinh mà còn phụ huynh mong muốn con em mình có thành tích cao nên ép con em
mình học quá mức gây ra nhiều hậu quả như stress, trầm cảm…thậm chí có nhiều
trường hợp các em tự tử vì không đạt thành tích như mong muốn. Như vậy, vấn đề
đặt ra ở đây cho ngành giáo dục của chúng là gì? Liệu có tiếp tục để những thế
hệ tiếp theo tiếp tục lo lắng về điểm số nữa không?
Vấn đề cần giải quyết?
Lần đầu tiên Việt Nam
tham gia PISA, đứng thứ 17 về toán học, 18 về đọc hiểu và thứ 8 về khoa học là
một điều không thể phủ nhận bởi đây là kết
quả cố gắng của 4959 em học sinh, giáo viên, và những người làm quản lý giáo dục.
Tuy nhiên chúng ta được chủ quan “yên tâm về giáo dục phổ thông”, vì đứng thứ hạng
cao không có nghĩa là có nền giáo dục tốt. Tham gia PISA không phải là để biết
được giáo dục của ta đang đứng ở vị trí nào trên thế giới mà tham gia PISA để
thấy được giáo dục của ta đang đang “mắc bệnh” gì để kịp thời có biện pháp chữa
trị. Đó mới là ý nghĩa thực sự khi Việt Nam tham gia PISA.
Tài liệu tham khảo
OECD (2013), PISA 2012 Results: Ready to Learn –
Students’ Engagement, Drive and Self-Beliefs (Volume III),
PISA, OECD Publishing.
OECD, PISA 2012 Database: http://pisa2012.acer.edu.au/
6/12/13
Phân tích những kết quả của PISA Việt Nam 2012
Tăng Thị Thùy
Theo kết quả khảo sát PISA 2012 của OECD được công bố ngày 3 tháng 12 năm 2012, Việt Nam đứng thứ 17 về toán toán học, thứ 19 về đọc hiểu và thứ 8 về khoa học. Tuy nhiên đây chỉ là kết quả thành tích mà 4959 học sinh Việt Nam đạt được qua các bài kiểm tra PISA. Sau khi làm bài kiểm tra xong, học sinh sẽ phải trả lời một phiếu khảo sát với 53 câu hỏi liên quan đến rất nhiều yếu tố trong quá hoạt động học tập của học sinh như: độ tuổi đến trường; giới tính; hoàn cảnh gia đình; môi trường học tập; cơ sở vật chất; trốn học; sự thích thú, khả năng tự tin của học sinh đối với các môn học… Thông qua kết quả của phiếu khảo sát này sẽ cho thấy những những vấn đề mà học sinh gặp phải trong quá trình học tập. Chẳng hạn,như trường hợp của Đài Loan luôn nằm trong tốp các nước/ vùng kinh tế có thành tích toán học cao nhất trong các kỳ khảo sát PISA nhưng thực chất phân tích khi phân tích phiếu khảo sát thì kết quả cho thấy rằng đa số học sinh không thích thú với việc học môn toán.
----------------------------------------------------------------------------------------
Thêm bài viết đưới đây ở báo Tuổi Trẻ:
http://tuoitre.vn/Giao-duc/583537/khao-sat-pisa-viet-nam-duoc-danh-gia-cao-tai-dong-nam-a.html
Theo kết quả khảo sát PISA 2012 của OECD được công bố ngày 3 tháng 12 năm 2012, Việt Nam đứng thứ 17 về toán toán học, thứ 19 về đọc hiểu và thứ 8 về khoa học. Tuy nhiên đây chỉ là kết quả thành tích mà 4959 học sinh Việt Nam đạt được qua các bài kiểm tra PISA. Sau khi làm bài kiểm tra xong, học sinh sẽ phải trả lời một phiếu khảo sát với 53 câu hỏi liên quan đến rất nhiều yếu tố trong quá hoạt động học tập của học sinh như: độ tuổi đến trường; giới tính; hoàn cảnh gia đình; môi trường học tập; cơ sở vật chất; trốn học; sự thích thú, khả năng tự tin của học sinh đối với các môn học… Thông qua kết quả của phiếu khảo sát này sẽ cho thấy những những vấn đề mà học sinh gặp phải trong quá trình học tập. Chẳng hạn,như trường hợp của Đài Loan luôn nằm trong tốp các nước/ vùng kinh tế có thành tích toán học cao nhất trong các kỳ khảo sát PISA nhưng thực chất phân tích khi phân tích phiếu khảo sát thì kết quả cho thấy rằng đa số học sinh không thích thú với việc học môn toán.
Như vậy kết quả thành tích qua bài kiểm tra cũng chưa thấy
được những vấn đề thực sự của giáo dục. Theo phân tích sơ bộ của OECD thì PISA
Việt Nam thể hiện như sau:
Về thành tích chung, cả ba lĩnh vực toán học, đọc hiểu và
khoa học, Việt Nam đều đứng trên mức trung bình của OECD. Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm học sinh đạt thành
tích cao thì lại thấp hơn hoặc chỉ tương đương với trung bình của OECD. Điều này cho thấy Việt Nam không có
nhiều học sinh đạt thành tích cao nhưng cũng cho thấy không có khoảng cách quá
xa giữa học sinh đạt thành tích cao và học sinh có kết quả thấp vì tỷ lệ phần
trăm sinh viên đạt kết quả thấp khả quan hơn trung bình của OECD.
Thành tích toán học và khoa học của học sinh nam so với học
sinh nữ cũng chỉ trong khoảng trung bình của OECD. Như vậy có sự khác biệt về
thành tích học tập giữa nam và nữ (có 2648 học sinh nữ và 2311 học sinh nam
tham gia khảo sát). Do vậy, giới tính trong giáo dục là một vấn đề của giáo dục
Việt Nam. Kết quả PISA cũng chỉ ra bối cảnh xã hội có sự ảnh hưởng đến thành
tích học tập của học sinh. Khi bối cảnh xã hội hiện nay vẫn còn trọng băng cấp,
thi cử, thành tích thì chắc sẽ tác động mạnh đến phương pháp dạy và học của thầy
– trò chủ yếu là để đối phó với thi cử.
Về bản thân học sinh, theo khảo sát tỷ lệ trốn tiết học, ngày
học của học sinh Việt Nam cao hơn mức trung bình của OECD. Theo dữ liệu công bố
của PISA, sau khi sử lý bằng phần mềm SPSS, kết quả cho thấy: có 16% học sinh
đi học muộn; 8,7% học sinh trốn học cả ngày; 6,3% học sinh trốn tiết (xem bảng
1,2,3). Việc trốn học này đã ảnh hưởng đến
kết quả học tập của học sinh. Và sự ảnh hưởng này cao hơn trung bình của OECD.
Ngoài ra, sự lo lắng của học sinh Việt Nam cũng cao hơn trung bình của OECD. Kết quả cho thấy học sinh Việt Nam chưa được thỏa mái trong học tập nên khẩu hiệu “mỗi ngày đến trường là một niềm vui” dường như vẫn chỉ là khẩu hiệu!.
Ngoài ra, sự lo lắng của học sinh Việt Nam cũng cao hơn trung bình của OECD. Kết quả cho thấy học sinh Việt Nam chưa được thỏa mái trong học tập nên khẩu hiệu “mỗi ngày đến trường là một niềm vui” dường như vẫn chỉ là khẩu hiệu!.
Điều đáng nói nữa là học sinh Việt Nam chưa có niềm tin vào
khả năng của mình khi mà kết quả PISA chỉ ra rằng tỷ lệ học sinh Việt Nam tin
vào khả năng của bản thân thấp hơn trung bình của OECD. Câu hỏi đặt ra cho mục đích giáo dục, liệu mục đích giáo dục
của chúng ta đang có vấn đề?
Trên đây chỉ là một số những điểm sơ nét mà OECD chỉ ra qua cuộc khảo sát
PISA của Việt Nam năm 2012. Những để có
những kết quả chi tiết hơn thì cần tiếp
những nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng bảng khảo sát học sinh, nhà trường, phụ huynh (hiệu trưởng và
phụ huynh cũng là đối tượng trong cuộc khảo sát PISA). Từ đó chúng ta mới thấy
được bức tranh rõ nét của giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay.
Bảng 1. Tỷ
lệ học sinh đi học muộn
Tần số
|
Phần trăm
|
|
Không đi
học muộn
|
4154
|
83.9
|
1 đến 2
lần
|
694
|
14.0
|
3 đến 4
lần
|
71
|
1.4
|
5 lần trở
lên
|
31
|
.6
|
Tổng số
|
4950
|
100.0
|
* Không tính 2 phiếu không hợp lệ và 7 phiếu
không trả lời
Bảng 2. Tỷ
lệ học sinh trốn học cả ngày
Tần số
|
Phần trăm
|
|
Không trốn
buổi học
|
4521
|
91.3
|
1 đến 2
lần
|
372
|
7.5
|
3 đến 4
lần
|
43
|
.9
|
5 lần trở
lên
|
16
|
.3
|
Tổng số
|
4952
|
100.0
|
*Không tính 7 phiếu
không trả lời
Bảng 3. Tỷ
lệ học sinh trốn tiết học
Tần số
|
Phần trăm
|
|
Không trốn
tiết học
|
4641
|
93.6
|
1 đến 2
lần
|
268
|
5.4
|
3 đến 4
lần
|
32
|
.6
|
5 lần trở
lên
|
16
|
.3
|
Tổng số
|
4957
|
100.0
|
*Không tính 2 phiếu
không trả lời
----------------------------------------------------------------------------------------
Thêm bài viết đưới đây ở báo Tuổi Trẻ:
http://tuoitre.vn/Giao-duc/583537/khao-sat-pisa-viet-nam-duoc-danh-gia-cao-tai-dong-nam-a.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




